Hungary Dân số thành thị
Tỷ lệ phần trăm dân số sống ở khu vực thành thị so với tổng dân số.
Trang này sử dụng quan sát World Bank mới nhất hiện có (2024). Các tập dữ liệu cấp quốc gia thường chậm hơn so với năm dương lịch hiện tại vì chúng phụ thuộc vào báo cáo và xác nhận chính thức.
Xu hướng lịch sử
Tổng quan
Dân số thành thị của Hungary là 70,49 % tổng số vào năm 2024, xếp thứ #87 trong số 215 quốc gia.
Từ năm 1960 đến 2024, Dân số thành thị của Hungary đã thay đổi từ 53,44 thành 70,49 (31.9%).
Trong thập kỷ qua, Dân số thành thị ở Hungary đã thay đổi 0.3%, từ 70,31 % tổng số vào năm 2014 thành 70,49 % tổng số vào năm 2024.
Hungary ở đâu?
Hungary
- Châu lục
- Châu Âu
- Quốc gia
- Hungary
- Tọa độ
- 47.00°, 20.00°
Dữ liệu lịch sử
| Năm | Giá trị |
|---|---|
| 1960 | 53,44 % tổng số |
| 1961 | 53,58 % tổng số |
| 1962 | 53,73 % tổng số |
| 1963 | 53,9 % tổng số |
| 1964 | 54,07 % tổng số |
| 1965 | 54,26 % tổng số |
| 1966 | 54,45 % tổng số |
| 1967 | 54,65 % tổng số |
| 1968 | 54,86 % tổng số |
| 1969 | 55,07 % tổng số |
| 1970 | 55,3 % tổng số |
| 1971 | 55,53 % tổng số |
| 1972 | 55,77 % tổng số |
| 1973 | 56,02 % tổng số |
| 1974 | 56,27 % tổng số |
| 1975 | 56,53 % tổng số |
| 1976 | 56,8 % tổng số |
| 1977 | 57,07 % tổng số |
| 1978 | 57,35 % tổng số |
| 1979 | 57,63 % tổng số |
| 1980 | 57,92 % tổng số |
| 1981 | 58,21 % tổng số |
| 1982 | 58,51 % tổng số |
| 1983 | 58,81 % tổng số |
| 1984 | 59,11 % tổng số |
| 1985 | 59,42 % tổng số |
| 1986 | 59,73 % tổng số |
| 1987 | 60,04 % tổng số |
| 1988 | 60,36 % tổng số |
| 1989 | 60,68 % tổng số |
| 1990 | 61 % tổng số |
| 1991 | 61,32 % tổng số |
| 1992 | 61,65 % tổng số |
| 1993 | 61,97 % tổng số |
| 1994 | 62,3 % tổng số |
| 1995 | 62,63 % tổng số |
| 1996 | 62,95 % tổng số |
| 1997 | 63,28 % tổng số |
| 1998 | 63,61 % tổng số |
| 1999 | 63,93 % tổng số |
| 2000 | 64,26 % tổng số |
| 2001 | 64,65 % tổng số |
| 2002 | 65,04 % tổng số |
| 2003 | 64,85 % tổng số |
| 2004 | 65,02 % tổng số |
| 2005 | 66,13 % tổng số |
| 2006 | 67,02 % tổng số |
| 2007 | 67 % tổng số |
| 2008 | 68,1 % tổng số |
| 2009 | 68,46 % tổng số |
| 2010 | 69,53 % tổng số |
| 2011 | 69,48 % tổng số |
| 2012 | 69,58 % tổng số |
| 2013 | 69,93 % tổng số |
| 2014 | 70,31 % tổng số |
| 2015 | 70,48 % tổng số |
| 2016 | 70,47 % tổng số |
| 2017 | 70,45 % tổng số |
| 2018 | 70,47 % tổng số |
| 2019 | 70,46 % tổng số |
| 2020 | 70,29 % tổng số |
| 2021 | 70,21 % tổng số |
| 2022 | 70,16 % tổng số |
| 2023 | 70,29 % tổng số |
| 2024 | 70,49 % tổng số |
So sánh toàn cầu
Trong số tất cả các quốc gia, Bahrain có Dân số thành thị cao nhất ở mức 100 % tổng số, trong khi Liechtenstein có mức thấp nhất ở mức 14,66 % tổng số.
Hungary được xếp hạng ngay trên Tunisia (70,36 % tổng số) và ngay dưới Angola (70,66 % tổng số).
Định nghĩa
Dân số thành thị đo lường tổng số người sống trong các khu vực được cơ quan thống kê quốc gia của mỗi nước phân loại là thành thị. Chỉ số này phản ánh sự chuyển dịch nhân khẩu học từ đời sống nông thôn sang thành thị, thường được thúc đẩy bởi quá trình công nghiệp hóa, phát triển kinh tế và sự mở rộng của các lĩnh vực dựa trên dịch vụ. Mặc dù không tồn tại một tiêu chuẩn chung cho những gì cấu thành một khu vực thành thị, các phân loại thường dựa trên quy mô dân số, mật độ dân số, ranh giới hành chính hoặc sự hiện diện của cơ sở hạ tầng cụ thể như đường trải nhựa, điện và dịch vụ y tế. Số lượng dân số thành thị cao thường tương quan với tổng sản phẩm quốc nội cao hơn, vì các thành phố đóng vai trò là trung tâm đổi mới, thương mại và giáo dục. Tuy nhiên, đô thị hóa nhanh chóng cũng có thể gây ra những thách thức về nhà ở, vệ sinh và giao thông. Chỉ số này thường được biểu thị dưới dạng số lượng cư dân tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trong tổng dân số, cung cấp một cái nhìn tổng quát về mô hình định cư và cấu trúc xã hội của một quốc gia.
Công thức
Tỷ lệ phần trăm dân số thành thị = (Số cư dân ở khu vực thành thị ÷ Tổng dân số quốc gia) × 100
Phương pháp luận
Dữ liệu cho chỉ số này chủ yếu được lấy từ Ban Dân số Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới. Quá trình thu thập dựa trên các cuộc điều tra dân số quốc gia và hồ sơ hành chính do từng quốc gia cung cấp. Vì các định nghĩa quốc gia về khu vực thành thị khác nhau, Liên Hợp Quốc áp dụng kỹ thuật làm mượt để hài hòa các số liệu và tạo ra dữ liệu chuỗi thời gian nhất quán. Để giải quyết việc thiếu tiêu chuẩn chung, Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc gần đây đã xác nhận phương pháp luận Mức độ Đô thị hóa (DEGURBA). Cách tiếp cận này sử dụng các ngưỡng mật độ và quy mô dân số áp dụng cho lưới dân số để phân loại lãnh thổ thành ba loại: thành phố, thị trấn và khu vực bán dày đặc, và khu vực nông thôn. Bất chấp những nỗ lực này, chất lượng dữ liệu có thể bị hạn chế ở những nơi nghèo tài nguyên, nơi các chu kỳ điều tra dân số không đều đặn hoặc ranh giới hành chính thường xuyên được vẽ lại, có khả năng dẫn đến việc đếm thiếu ở các khu định cư không chính thức.
Các biến thể phương pháp luận
- Định nghĩa quốc gia. Các khu vực thành thị được xác định bởi các tiêu chí pháp lý hoặc hành chính cụ thể của từng quốc gia, có thể dao động từ các khu định cư có 200 đến 50.000 cư dân.
- Mức độ Đô thị hóa (DEGURBA). Một phương pháp không gian hài hòa phân loại lãnh thổ dựa trên mật độ dân số, với các thành phố yêu cầu ít nhất 1.500 người trên mỗi km² (3.885 người trên mỗi dặm vuông).
- Khu vực đô thị chức năng (FUA). Một định nghĩa bao gồm lõi đô thị mật độ cao cộng với vùng đi lại xung quanh, nắm bắt toàn bộ phạm vi kinh tế của một thành phố.
Sự khác biệt giữa các nguồn
Sự khác biệt thường xảy ra giữa Ngân hàng Thế giới và Liên Hợp Quốc khi họ sử dụng các năm sửa đổi khác nhau của Triển vọng Đô thị hóa Thế giới. Hơn nữa, các số liệu của chính phủ quốc gia có thể cao hơn các ước tính quốc tế nếu họ bao gồm các thị trấn bán thành thị mà các cơ quan quốc tế phân loại là nông thôn.
Giá trị tốt là bao nhiêu?
Tỷ lệ phần trăm trên 50% cho thấy đa số dân số đã đô thị hóa, một ngưỡng mà thế giới đã vượt qua vào khoảng năm 2007. Các quốc gia có tỷ lệ thành thị vượt quá 80% được coi là đô thị hóa cao, trong khi những quốc gia dưới 30% thường là các nền kinh tế đang phát triển ở giai đoạn đầu với các lĩnh vực nông nghiệp chiếm ưu thế.
Xếp hạng thế giới
Xếp hạng Dân số thành thị năm 2024 dựa trên dữ liệu từ World Bank, bao gồm 215 quốc gia.
| Hạng | Quốc gia | Giá trị |
|---|---|---|
| 1 | Bahrain | 100 % tổng số |
| 2 | Bermuda | 100 % tổng số |
| 3 | Gibraltar | 100 % tổng số |
| 4 | Đặc khu Hành chính Hồng Kông, Trung Quốc | 100 % tổng số |
| 5 | Kuwait | 100 % tổng số |
| 6 | Quần đảo Cayman | 100 % tổng số |
| 7 | Monaco | 100 % tổng số |
| 8 | St. Martin | 100 % tổng số |
| 9 | Đặc khu Hành chính Macao, Trung Quốc | 100 % tổng số |
| 10 | Nauru | 100 % tổng số |
| 87 | Hungary | 70,49 % tổng số |
| 211 | Niger | 18,05 % tổng số |
| 212 | Samoa | 17,5 % tổng số |
| 213 | Malawi | 17,27 % tổng số |
| 214 | Papua New Guinea | 15,41 % tổng số |
| 215 | Liechtenstein | 14,66 % tổng số |
Xu hướng toàn cầu
Dữ liệu gần đây chỉ ra rằng hơn 56% dân số toàn cầu cư trú tại các khu vực thành thị, tương đương với khoảng 4,4 tỷ người. Xu hướng này đã tăng tốc đáng kể kể từ giữa thế kỷ 20, khi chỉ có 30% thế giới sống ở các thành phố. Các ước tính hiện tại cho thấy tổng dân số thành thị sẽ tăng lên gần 70% vào năm 2050, bổ sung thêm hơn 2 tỷ cư dân thành phố mới. Sự tăng trưởng ngày càng tập trung vào các siêu đô thị—các cụm đô thị có hơn 10 triệu dân—hiện có hơn 30 thành phố như vậy trên toàn cầu. Trong khi tốc độ đô thị hóa đã ổn định ở các quốc gia phát triển, các nền kinh tế mới nổi đang chứng kiến sự chuyển dịch nhanh chóng khi người dân di cư để tìm kiếm việc làm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Sự chuyển đổi này là động lực cốt lõi của tăng trưởng kinh tế toàn cầu nhưng cũng đòi hỏi các khoản đầu tư khổng lồ vào cơ sở hạ tầng thích ứng với khí hậu và nhà ở bền vững.
Mô hình khu vực
Mức độ đô thị hóa khu vực thay đổi đáng kể theo thu nhập và địa lý. Bắc Mỹ và Mỹ Latinh nằm trong số những khu vực đô thị hóa nhất, với hơn 80% dân số sống ở các thành phố. Châu Âu theo sát với khoảng 75% đô thị hóa. Ngược lại, Châu Phi cận Sahara và Nam Á vẫn là những khu vực ít đô thị hóa nhất, với tỷ lệ thành thị thường dưới 40% đến 50%. Tuy nhiên, các khu vực này hiện đang trải qua tốc độ tăng trưởng đô thị nhanh nhất thế giới. Các dự báo chỉ ra rằng gần 90% sự gia tăng dân số thành thị toàn cầu trong tương lai sẽ xảy ra ở Châu Phi và Châu Á, đặc biệt là ở các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc và Nigeria. Ở các quốc gia thu nhập cao, xu hướng đã chuyển sang ngoại ô hóa và sự phát triển của các thành phố quy mô trung bình, trong khi ở các khu vực thu nhập thấp hơn, sự tăng trưởng thường tập trung vào một vài trung tâm đô thị chính.
Về dữ liệu này
- Nguồn
- World Bank
SP.URB.TOTL.IN.ZS - Định nghĩa
- Tỷ lệ phần trăm dân số sống ở khu vực thành thị so với tổng dân số.
- Phạm vi
- Dữ liệu cho 215 quốc gia (2024)
- Hạn chế
- Dữ liệu có thể trễ 1-2 năm đối với một số quốc gia. Mức độ bao phủ thay đổi theo chỉ số.
Câu hỏi thường gặp
Dân số thành thị của Hungary là 70,49 % tổng số vào năm 2024, xếp thứ #87 trong số 215 quốc gia.
Từ năm 1960 đến 2024, Dân số thành thị của Hungary đã thay đổi từ 53,44 thành 70,49 (31.9%).
Dân số thành thị bao gồm những người sống trong các khu định cư được chính phủ quốc gia của họ định nghĩa là thành thị. Các định nghĩa này khác nhau nhưng thường bao gồm các tiêu chí như quy mô dân số tối thiểu, mật độ dân số cao ít nhất 1.500 người trên mỗi km² (3.885 người trên mỗi dặm vuông), hoặc sự sẵn có của cơ sở hạ tầng như bệnh viện và đường trải nhựa.
Theo các ước tính hiện tại, khoảng 56% dân số toàn cầu sống ở các khu vực thành thị. Điều này phản ánh một sự thay đổi nhân khẩu học lớn từ đời sống nông thôn, khi thế giới chính thức trở nên thành thị nhiều hơn nông thôn vào khoảng năm 2007. Đến năm 2050, các dự báo gần đây cho thấy cứ 10 người thì có 7 người sẽ cư trú tại các thành phố.
Châu Phi cận Sahara và Nam Á hiện có tốc độ tăng trưởng đô thị cao nhất. Mặc dù các khu vực này trong lịch sử chủ yếu là nông thôn, nhưng những thay đổi kinh tế nhanh chóng và di cư đang thúc đẩy người dân hướng về các thành phố với tốc độ chưa từng thấy. Ấn Độ, Trung Quốc và Nigeria dự kiến sẽ dẫn đầu sự mở rộng này trong những thập kỷ tới.
Các quốc gia sử dụng các ngưỡng khác nhau dựa trên bối cảnh địa lý và kinh tế cụ thể của họ. Ví dụ, một ngôi làng 200 người có thể được coi là thành thị ở Đan Mạch, trong khi Nhật Bản yêu cầu dân số 50.000 người để đạt trạng thái thành phố. Những biến thể này khiến việc so sánh quốc tế trực tiếp trở nên khó khăn nếu không sử dụng các mô hình hài hòa như Mức độ Đô thị hóa.
Dân số thành thị tăng trưởng nhanh chóng thường vượt xa sự phát triển của cơ sở hạ tầng thiết yếu. Điều này dẫn đến các thách thức như thiếu hụt nhà ở, sự gia tăng của các khu định cư không chính thức hoặc khu ổ chuột, tắc nghẽn giao thông gia tăng và áp lực lên hệ thống quản lý chất thải. Các thành phố phải lập kế hoạch hiệu quả để đảm bảo phát triển bền vững và tiếp cận dịch vụ cho tất cả cư dân.
Số liệu Dân số thành thị của Hungary được lấy từ API Dữ liệu Mở của World Bank, tổng hợp báo cáo từ các cơ quan thống kê quốc gia và các tổ chức quốc tế đã được xác minh. Tập dữ liệu được làm mới hàng năm khi có báo cáo mới, thường có độ trễ báo cáo từ 1–2 năm.