Dân số của Philippines

Xu hướng dân số, tốc độ tăng trưởng, mật độ và triển vọng nhân khẩu học của Philippines.

Tổng quan về dân số

Dân số ước tính năm 2026 của Philippines là khoảng 118 triệu người, phản ánh xu hướng tăng trưởng ổn định trên khắp quần đảo. Quốc gia này hiện giữ thứ hạng 14 trên 215 quốc gia toàn cầu và là quốc gia đông dân thứ hai ở Đông Nam Á. Dữ liệu gần đây cho thấy mật độ dân số là 394,9 người trên mỗi km² (1.023 người trên mỗi dặm vuông), với hơn một nửa cư dân sống ở các trung tâm đô thị như Manila. Mặc dù tốc độ tăng trưởng đã giảm xuống còn 0,83% hàng năm, dân số vẫn tiếp tục mở rộng thông qua sự gia tăng tự nhiên đáng kể.

Tốc độ tăng trưởng
0.83%
Mật độ
391.7/km²
Xếp hạng toàn cầu
#14 / 215

Số liệu năm 2026 là ước tính được ngoại suy từ giá trị World Bank năm 2024 là 116 Tr với tốc độ tăng trưởng hàng năm mới nhất là 0.83%. Dữ liệu chính thức của năm hiện tại chưa được công bố — World Bank thường chậm từ 1–2 năm.

Các chỉ số dân số chính

Dân số thành thị
55.5%
Độ tuổi trung vị
66.4
Tỷ lệ sinh
1.89
Tuổi thọ
69.9 năm
Tỷ lệ sinh
15.9 trên 1.000
Tỷ lệ tử vong
6.3 trên 1.000

Thay đổi dân số hàng ngày

Số ca sinh mỗi ngày
5.044
Số ca tử vong mỗi ngày
2.015
Thay đổi tự nhiên ròng mỗi ngày
+3.029

Xu hướng dân số lịch sử

19 Tr 40 Tr 62 Tr 84 Tr 105 Tr 127 Tr 19601969197819871996200520142026
Xu hướng lịch sử

Các giá trị từ năm 2024 trở đi được dự phóng bằng cách sử dụng tốc độ tăng trưởng hàng năm mới nhất.

Lịch sử dân số

Lịch sử dân số của Philippines được đặc trưng bởi sự gia tăng nhanh chóng trong thế kỷ 20, phần lớn được thúc đẩy bởi những cải thiện về sức khỏe cộng đồng và tỷ lệ sinh cao chịu ảnh hưởng của các giá trị truyền thống và tôn giáo. Sau Thế chiến II, quốc gia này đã trải qua một đợt bùng nổ trẻ sơ sinh kéo dài khiến dân số tăng gấp đôi nhiều lần chỉ trong vài thập kỷ. Trong phần lớn những năm cuối thế kỷ 20, Philippines duy trì một trong những tốc độ tăng trưởng cao nhất ở châu Á, dẫn đến áp lực đáng kể lên đất đai và tài nguyên trên khắp 7.000 hòn đảo của mình. Trong những năm gần đây, quỹ đạo nhân khẩu học đã thay đổi do những thay đổi về luật pháp và sự tiến hóa của xã hội. Việc thực hiện Đạo luật Làm cha mẹ có trách nhiệm và Sức khỏe sinh sản năm 2012 đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách quốc gia, cung cấp khả năng tiếp cận rộng rãi hơn với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Điều này đã góp phần làm giảm dần tỷ lệ sinh và xu hướng tăng trưởng ổn định, mặc dù di sản lịch sử của tỷ lệ sinh cao đã để lại cho đất nước một nền tảng nhân khẩu học lớn, năng động và tương đối trẻ.

Phân tích tăng trưởng

Các ước tính hiện tại cho thấy Philippines đang trải qua một quá trình chuyển đổi nhân khẩu học đáng kể, với tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm hiện ở mức 0,83%. Đây là một sự sụt giảm đáng kể so với mức 2% đến 3% được quan sát thấy trong các thập kỷ trước. Tỷ lệ sinh mới nhất đứng ở mức 1,89 con trên mỗi phụ nữ, hiện thấp hơn mức thay thế toàn cầu là 2,1. Sự sụt giảm này cho thấy mặc dù dân số vẫn đang tăng, nhưng tốc độ mở rộng đang chậm lại khi các gia đình trở nên nhỏ hơn và đô thị hóa hơn. Các dự báo trong tương lai cho thấy dân số sẽ tiếp tục tăng trong suốt giữa thế kỷ 21 do đà nhân khẩu học. Ngay cả với tỷ lệ sinh thấp hơn, số lượng lớn các cá nhân bước vào độ tuổi sinh sản đảm bảo một khối lượng sinh hàng ngày cao, hiện ước tính là 5.044 ca. Tuổi thọ khi sinh đã đạt khoảng 69,9 tuổi, góp phần hơn nữa vào quy mô dân số tổng thể khi kết quả sức khỏe cho cả trẻ sơ sinh và người già tiếp tục được cải thiện.

Mật độ dân số

Mật độ dân số ước tính năm 2026 hiện tại là 394,9 người trên mỗi km² (1.023 người trên mỗi dặm vuông), xếp Philippines thứ 29 toàn cầu về mức độ tập trung dân cư.

Xu hướng đô thị hóa

Khoảng 55,5% dân số sống ở các khu vực đô thị, một con số phản ánh sự di cư liên tục từ các tỉnh nông thôn đến các trung tâm đô thị như Manila và Cebu.

So sánh khu vực

Trong bối cảnh toàn cầu, Philippines là một nhân tố nhân khẩu học lớn, xếp thứ 14 trên 215 quốc gia trên toàn thế giới. Trong bối cảnh khu vực châu Á, quốc gia này giữ vị trí thứ 7 trên 49 quốc gia. Nó đặc biệt nổi bật ở Đông Nam Á, nơi nó xếp thứ 2 trên 11, chỉ sau Indonesia về tổng quy mô dân số. Điều này đưa Philippines vượt lên trên các nước láng giềng trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan và Malaysia về tổng số dân. Khi so sánh mật độ dân số, Philippines đông đúc hơn nhiều so với nhiều nước láng giềng, với thứ hạng 12 trên 49 ở châu Á. Mật độ 394,9 người trên mỗi km² (1.023 người trên mỗi dặm vuông) cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu, phản ánh sự tập trung của gần 118 triệu người trong diện tích đất liền 342.353 km² (132.183 dặm vuông). Mật độ cao này, kết hợp với tỷ lệ đô thị hóa 55,5%, làm nổi bật việc sử dụng đất thâm canh và các mô hình di cư nhanh chóng về phía thành phố được thấy trên khắp đất nước.

Bảng dữ liệu dân số

Năm Dân số
1960 28 Tr
1965 33 Tr
1970 38 Tr
1975 42 Tr
1980 48 Tr
1985 55 Tr
1990 63 Tr
1995 71 Tr
2000 80 Tr
2005 88 Tr
2010 96 Tr
2015 105 Tr
2020 112 Tr
2022 114 Tr
2023 115 Tr
2024 116 Tr
2025 (ước tính) 117 Tr
2026 (ước tính) 118 Tr

Các hàng in nghiêng là dự phóng được ngoại suy từ giá trị mới nhất của World Bank theo tốc độ tăng trưởng hàng năm gần nhất. Số liệu chính thức thường trễ 1–2 năm.

Bối cảnh xếp hạng toàn cầu

Về dân số, Ấn Độ dẫn đầu với 1 T, trong khi Tuvalu có dân số ít nhất với 9,6 N.

Philippines được xếp hạng giữa Ai Cập (hạng 13) và Congo - Kinshasa (hạng 15) trên toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

Dân số ước tính của Philippines năm 2026 là 118 Tr, xếp hạng #14 toàn cầu trong số 215 quốc gia.

Dựa trên dữ liệu mới nhất, tỷ lệ tăng dân số của Philippines là 0.83% mỗi năm.

Dân số ước tính năm 2026 của Philippines là khoảng 118 triệu người. Con số này dựa trên ước tính hiện tại được dự báo từ dân số chính thức năm 2024 là 115.843.670 người. Quốc gia này tiếp tục tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 0,83%, bổ sung hàng nghìn cư dân mới vào tổng số mỗi ngày.

Philippines hiện xếp thứ 14 trên 215 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới về tổng dân số. Trong bối cảnh khu vực, đây là quốc gia đông dân thứ 7 ở châu Á và lớn thứ 2 ở Đông Nam Á, khiến nó trở thành một lực lượng nhân khẩu học đáng kể ở khu vực Thái Bình Dương.

Mật độ dân số ước tính năm 2026 là 394,9 người trên mỗi km² (1.023 người trên mỗi dặm vuông). Điều này xếp Philippines thứ 29 trên 215 toàn cầu về mật độ. Sự tập trung dân cư cao nhất ở các vùng đô thị hóa, đặc biệt là xung quanh thủ đô Manila, nơi vẫn là một trong những khu vực đô thị đông dân nhất thế giới.

Dân số Philippines vẫn đang tăng, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 0,83%. Mặc dù tốc độ đã chậm lại đáng kể so với các mức đỉnh lịch sử, dữ liệu gần đây cho thấy mức tăng ròng khoảng 2.620 người mỗi ngày. Sự tăng trưởng này được thúc đẩy bởi 5.044 ca sinh hàng ngày của đất nước vượt quá 2.015 ca tử vong hàng ngày.

Tỷ lệ sinh mới nhất ở Philippines là 1,89 con trên mỗi phụ nữ. Đây là một sự sụt giảm đáng kể so với các thập kỷ trước và hiện thấp hơn mức thay thế là 2,1. Sự thay đổi này được cho là do khả năng tiếp cận giáo dục tốt hơn, các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và quá trình chuyển đổi đang diễn ra của đất nước sang một nền kinh tế đô thị hóa hơn.

Các ước tính hiện tại cho thấy 55,5% dân số Philippines sống ở các khu vực đô thị. Thứ hạng đô thị hóa này là 140 trên 215 toàn thế giới. Xu hướng sống ở thành phố được thúc đẩy bởi việc tìm kiếm việc làm trong các lĩnh vực dịch vụ, sản xuất và công nghệ, vốn tập trung mạnh ở các trung tâm đô thị lớn.

Ước tính dân số của Philippines được lấy từ nền tảng Dữ liệu Mở của World Bank, tổng hợp số liệu điều tra dân số quốc gia, sổ đăng ký thống kê hộ tịch và dự báo dân số của Liên Hợp Quốc. Số liệu được làm mới hàng năm, thường có độ trễ báo cáo từ 1–2 năm.

Về dữ liệu này
Nguồn
World Bank SP.POP.TOTL
Phạm vi
Dữ liệu cho 215 quốc gia (2024)
Hạn chế
Dữ liệu có thể trễ 1-2 năm đối với một số quốc gia. Mức độ bao phủ thay đổi theo chỉ số.