Tây Ban Nha Di cư ròng
Số lượng người di cư ròng trong kỳ, được tính bằng số người nhập cư trừ đi số người xuất cư.
Trang này sử dụng quan sát World Bank mới nhất hiện có (2025). Các tập dữ liệu cấp quốc gia thường chậm hơn so với năm dương lịch hiện tại vì chúng phụ thuộc vào báo cáo và xác nhận chính thức.
Xu hướng lịch sử
Tổng quan
Di cư ròng của Tây Ban Nha là 96,6 N người vào năm 2025, xếp thứ #17 trong số 215 quốc gia.
Từ năm 1960 đến 2025, Di cư ròng của Tây Ban Nha đã thay đổi từ -154,9 N thành 96,6 N (162.4%).
Trong thập kỷ qua, Di cư ròng ở Tây Ban Nha đã thay đổi 4982.8%, từ -2 N người vào năm 2015 thành 96,6 N người vào năm 2025.
Tây Ban Nha ở đâu?
Tây Ban Nha
- Châu lục
- Châu Âu
- Quốc gia
- Tây Ban Nha
- Tọa độ
- 40.00°, -4.00°
Dữ liệu lịch sử
| Năm | Giá trị |
|---|---|
| 1960 | -154,9 N người |
| 1961 | -46,5 N người |
| 1962 | -45,2 N người |
| 1963 | -44,4 N người |
| 1964 | -41,5 N người |
| 1965 | -42,5 N người |
| 1966 | -41,5 N người |
| 1967 | -42,3 N người |
| 1968 | -46,1 N người |
| 1969 | -50 N người |
| 1970 | -60,6 N người |
| 1971 | 7,4 N người |
| 1972 | 7,9 N người |
| 1973 | 8,6 N người |
| 1974 | 105,8 N người |
| 1975 | -218 người |
| 1976 | 2,8 N người |
| 1977 | -1,3 N người |
| 1978 | -2,5 N người |
| 1979 | -5,9 N người |
| 1980 | 20,2 N người |
| 1981 | 2,6 N người |
| 1982 | -7,4 N người |
| 1983 | 1,2 N người |
| 1984 | 2,8 N người |
| 1985 | -589 người |
| 1986 | -13,5 N người |
| 1987 | -12,7 N người |
| 1988 | -17,7 N người |
| 1989 | -25,9 N người |
| 1990 | -30,7 N người |
| 1991 | 122,8 N người |
| 1992 | 177,5 N người |
| 1993 | 160,9 N người |
| 1994 | 160,4 N người |
| 1995 | 162,4 N người |
| 1996 | 162,7 N người |
| 1997 | 165,3 N người |
| 1998 | 182,9 N người |
| 1999 | 178,6 N người |
| 2000 | 176,3 N người |
| 2001 | 181,3 N người |
| 2002 | 737,9 N người |
| 2003 | 658,4 N người |
| 2004 | 661,2 N người |
| 2005 | 629,8 N người |
| 2006 | 659,7 N người |
| 2007 | 772,3 N người |
| 2008 | 434,1 N người |
| 2009 | 129,6 N người |
| 2010 | 69,4 N người |
| 2011 | 60,8 N người |
| 2012 | -153,5 N người |
| 2013 | -250,7 N người |
| 2014 | -97,9 N người |
| 2015 | -2 N người |
| 2016 | 106,5 N người |
| 2017 | 201,1 N người |
| 2018 | 337,5 N người |
| 2019 | 464,8 N người |
| 2020 | 236,9 N người |
| 2021 | 144,4 N người |
| 2022 | 299,8 N người |
| 2023 | 119,1 N người |
| 2024 | 111,7 N người |
| 2025 | 96,6 N người |
So sánh toàn cầu
Trong số tất cả các quốc gia, Ukraina có Di cư ròng cao nhất ở mức 1,7 Tr người, trong khi Pakistan có mức thấp nhất ở mức -1,2 Tr người.
Tây Ban Nha được xếp hạng ngay trên Pháp (91,7 N người) và ngay dưới Hà Lan (104,7 N người).
Xếp hạng thế giới
Xếp hạng Di cư ròng năm 2025 dựa trên dữ liệu từ World Bank, bao gồm 215 quốc gia.
| Hạng | Quốc gia | Giá trị |
|---|---|---|
| 1 | Ukraina | 1,7 Tr người |
| 2 | Hoa Kỳ | 1,2 Tr người |
| 3 | Syria | 421,7 N người |
| 4 | Vương quốc Anh | 389,9 N người |
| 5 | Canada | 326,2 N người |
| 6 | Sudan | 291,5 N người |
| 7 | Malaysia | 166,6 N người |
| 8 | Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất | 158,6 N người |
| 9 | Nam Phi | 146,4 N người |
| 10 | Nhật Bản | 140,6 N người |
| 17 | Tây Ban Nha | 96,6 N người |
| 211 | Đức | -334,1 N người |
| 212 | Nepal | -364,7 N người |
| 213 | Bangladesh | -402,1 N người |
| 214 | Ấn Độ | -495,8 N người |
| 215 | Pakistan | -1,2 Tr người |
Về dữ liệu này
- Nguồn
- World Bank
SM.POP.NETM - Định nghĩa
- Số lượng người di cư ròng trong kỳ, được tính bằng số người nhập cư trừ đi số người xuất cư.
- Phạm vi
- Dữ liệu cho 215 quốc gia (2025)
- Hạn chế
- Dữ liệu có thể trễ 1-2 năm đối với một số quốc gia. Mức độ bao phủ thay đổi theo chỉ số.
Câu hỏi thường gặp
Di cư ròng của Tây Ban Nha là 96,6 N người vào năm 2025, xếp thứ #17 trong số 215 quốc gia.
Từ năm 1960 đến 2025, Di cư ròng của Tây Ban Nha đã thay đổi từ -154,9 N thành 96,6 N (162.4%).
Số liệu Di cư ròng của Tây Ban Nha được lấy từ API Dữ liệu Mở của World Bank, tổng hợp báo cáo từ các cơ quan thống kê quốc gia và các tổ chức quốc tế đã được xác minh. Tập dữ liệu được làm mới hàng năm khi có báo cáo mới, thường có độ trễ báo cáo từ 1–2 năm.